Các thành tố văn hóa trong hình thức kết cấu của thơ dân gian xứ Nghệ

Viện nghiên cứu Văn hóa và Ngôn ngữ

Số lượt xem:
263382

Trang web hiện có:
14 khách & 0 thành viên trực tuyến

Các thành tố văn hóa trong hình thức kết cấu của thơ dân gian xứ Nghệ

Tác giả: Ngô Văn Cảnh
Ngày đăng: Chủ nhật, 23 Tháng 10 2011 08:38

1. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá

Nếu văn hoá phản ánh "mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng..." [16, tr.17] thì có thể tìm thấy mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại đó của cư dân xứ Nghệ trong kho tàng thơ ca dân gian. Ở đó, từ phương diện nội dung, những nét riêng về thế giới tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc chi phối hệ thống các giá trị đời sống, phong tục, tín ngưỡng,... của một cộng đồng được bộc lộ. Từ phương diện hình thức, cách lựa chọn, tổ chức hệ thống tín hiệu ngôn ngữ và hình thức thể loại trong vai trò biểu đạt các giá trị văn hoá được hiện thực hoá. Các thành tố văn hoá trở thành một bộ phận cấu thành nội dung và hình thức tác phẩm thơ ca dân gian.

 

Cho đến nay, xung quanh khái niệm văn hoá đã có hàng trăm định nghĩa. Gần đây UNESCO xác định: "Văn hoá hôm nay có thể coi là một tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩ mới mẻ và tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân." [19, tr.17].

Ngôn ngữ là một bộ phận nằm trong hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ.  Văn hoá bao hàm ngôn ngữ nhưng ngôn ngữ lại là một phương tiện tác động tích cực đối với quá trình hình thành và phát triển của một nền văn hoá. Chính ngôn ngữ cùng với lao động là những tiền đề giúp con người cải tạo thế giới và cải tạo bản thân mình. Với chức năng tư duy, ngôn ngữ là phương tiện để con người nhận thức và mô hình hoá thế giới khách quan, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn và sáng tạo những mô hình, phương thức tồn tại mới.

Khi xem xét những yếu tố bên trong và những yếu tố bên ngoài của ngôn ngữ, F.d.Saussure cho rằng: "Hai thứ lịch sử (lịch sử của một ngôn ngữ với lịch sử của một chủng tộc hay một nền văn minh) xen lẫn vào nhau và có những mối quan hệ qua lại với nhau... Phong tục của một dân tộc có tác động đến ngôn ngữ, và mặt khác, trong một chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc." [17, tr.47].

Trong ý nghĩa của từ có bản sắc văn hoá của từng dân tộc. Vấn đề này cúng được GS. Đỗ Hữu Châu khẳng định: "Từ (và ngôn ngữ nói chung) không chỉ là những đơn vị của một hệ thống. Nó sinh ra để được sử dụng bởi cá nhân trong xã hội. Sự gắn bó lặp đi lặp lại của từ với sự vật mà chúng biểu thị với thói quen, với nếp sống, với tầng lớp xã hội, với nghề nghiệp,... của những người được sử dụng... có thể chuyển những tình cảm, thái độ, những liên tưởng có nguồn gốc ở bên ngoài thành ý nghĩa liên hội cho từ."

Khi ngôn ngữ là ngôn ngữ văn chương, mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ càng rõ nét. Các giá trị văn hoá kết tinh trong nó và khả năng tác động của nó tới môi trường văn hoá càng to lớn. "Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hoá. Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hoá của một thời đại trong đó nó tồn tại..." [2, tr.363]. Khi ngôn ngữ hoá thân vào văn học nghệ thuật, nó vượt qua chức năng định danh thông thường để tái hiện nên hình ảnh của cuộc sống. Cái được biểu đạt trong tác phẩm là cuộc đời, thân phận, diện mạo của mỗi cá nhân và cả cộng đồng trong những không gian, thời gian lịch sử xác định. Đối với văn học dân gian, mối liên hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và văn học càng trực tiếp hơn bởi văn học dân gian hình thành và phát triển từ trong lao động. "Thơ ca ra đời rất sớm. Con người từ thuở "sơ sinh" đã có xu hướng đi tìm sự hài hoà trong muôn vật, trong sự sống. Nếu lao động là biểu hiện đầu tiên của con người để làm chủ thiên nhiên thì văn hoá nghệ thuật, bắt nguồn từ lao động, là những biểu hiện đầu tiên của con người để chống lại sự hỗn mang nguyên thuỷ, xác lập trật tự và hài hoà cần thiết cho cuộc sống." [18, tr.49].

Ngôn ngữ và ngôn ngữ văn học là nơi lưu giữ và phản ánh quá trình hình thành diện mạo văn hoá của một cộng đồng. Mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ, văn hoá và văn học là cơ sở để tìm hiểu bản sắc văn hoá của con người Nghệ Tĩnh qua kho tàng thơ ca dân gian.

2. Giọng điệu lời thơ và khí chất con người xứ Nghệ

Đọc thơ ca dân gian xứ Nghệ, ấn tượng đầu tiên đem đến cho người đọc là sự luân phiên không đều đặn nhịp nhàng giữa các tiết nhịp trong lời. Sự tham gia nổi trội của các loại vần mở vần khép và hệ thanh điệu trầm và nặng cùng với một lượng lớn các từ hư đã làm cho âm hưởng, giọng điệu lời thơ mang nhiều chất văn xuôi. "Giọng Nghệ bầy tui như một người gánh nặng đi đường xa, trời nắng, nước ráo cổ, đến chỗ nghỉ, người mệt, cái chân không muốn bước nữa, đặt xuống ịch một cái." [1, tr.369]. Thế nhưng, xét trong mối quan hệ với nội dung, hình thức đó đồng điệu với nhịp rung cảm của tâm hồn và mạch tư duy của con người xứ Nghệ. Cái mượt mà, êm nhẹ tinh tế dễ kích thích hứng thú thẩm mỹ của con người nhưng cái thô mộc, mạnh mẽ với những biến đổi bất thường cũng có sức chinh phục của nó.

Chí vá trời/ lấp bể,

Thân bôn tẩu/ cõi ngoài.

Đông du mộ/ nhân tài,

Thơ Sào - Nam/ máu nhỏ,

Sự vong nô/ lệ nhỏ.

(HGNT, T2, Tr 315)

Nhịp 3/2 chắc khoẻ, các âm tiết cuối nhịp có âm chính độ mở rộng, âm sắc trầm cùng với luật bằng trắc của giặm đã góp phần không nhỏ trong việc thể hiện ý chí, khí phách, tình cảm của nhân vật trữ tình. Nếu thay hai âm tiết cuối nhịp (trời, bể) câu đầu bằng hai âm tiết khác có âm chính hẹp:

Chí vá thiênlấp địa.

Âm hưởng hào sảng của câu thơ còn lại rất ít và khí phách "vá trời lấp bể" cũng giảm đi nhiều. Nếu thay đổi cả nhịp điệu và số lượng âm tiết trong câu:

Ý chí vá trời lấp bể.

Tính chất đều đặn, nhịp nhàng tăng lên nhưng tính chất "hành khúc" mạnh mẽ, rắn rỏi, thôi thúc không còn nữa.

Cái "chắc gọn, nặng nề, hì hục" trong nhịp điệu lao động của HG bộc lộ rõ nét khí chất can đảm, bộc trực thẳng thắn của con người Nghệ Tĩnh. Ngay cả những lời đối đáp nam nữ, lối nói trực tiếp, thẳng thắn không kém phần mạnh mẽ và khảng khái cũng rất rõ nét:

Trót minh sơn thệ hải,

Đã hẹn ngọc thề vàng.

Dẫu rún bể đỉnh ngàn,

Dẫu ngàn vạn quan san,

Chữ trăm năm em quyết đặng.

Cuộc ân tình em quyết đặng.

            (HGNT, T1, Tr 153)

Trong  hát ví và ca dao, những nét khí chất trên đây của con người Nghệ Tĩnh vẫn được bảo tồn:

Sen xa hồ sen khô hồ cạn,

Bá xa tùng bá ngả tùng nghiêng.

Anh xa em ngày tháng đeo phiền,

Thuý Kiều xa Kim Trọng đã bốn niên ni rồi.

                                              (HPV, Tr 258)

Các hình ảnh biểu trưng (sen, hồ, tùng, bá) cùng với hình thức điệp, đối tô đậm ý hướng vươn tới cái đẹp toàn thiện, thanh cao trong tình yêu. Phải có một bản ngã thế nào đó mới lựa chọn Kim Trọng - Thuý Kiều, Vân Tiên - Nguyệt Nga, Lưu Bình - Dương Lễ,... và những hình tượng to lớn, kỳ vĩ như: Sơn cùng thuỷ tận, nguyệt khuyết sao băng,... làm chuẩn mực quy chiếu:

Bao giờ rú Gám bể đôi,

Duyên trăm năm tình nghĩa mới chia đôi tôi với nường.

(KTCDXN, T1, Tr 164)

Cũng là lời trách móc người bạn tình phụ bạc nhưng lời của chàng trai xứ Bắc phân trần mềm mỏng:

Nhớ khi xưa em nằm bãi cát,

Em bỏ mâm vàng hứng bát chuối xanh.

Bây giờ nên tiếng nên danh,

Chê ta quán nát lều tranh không ngồi.

(HVĐBHB, Tr 151)

Còn chàng trai xứ Nghệ cật vấn gay gắt theo kiểu "thẳng ruột ngựa":

Anh nói với em như rìu chém đá,

Như rạ chém đất, như mật rót vô lỗ tai.

Bây giờ em đã nghe ai,

Áo ngắn em mặc cổi áo dài anh mang.

(KTCDXN, T1, Tr 225)

Các vần mở "đá", "rạ" phối hợp với các vần khép "đất", "mật" đều mang thanh trắc, liên kết chuỗi với nhau kết hợp với phương thức điệp cú pháp: "Như rìu chém đá/ như rạ chém đất/ như mật rót vô tai" làm cho nhịp điệu câu thơ nhanh gấp, đanh chắc, xoáy sâu hơn nỗi đau của chàng trai. Nói thẳng, nói thật, không che dấu tình cảm, dù điều được nói tới có cay đắng, đường đột, khó nghe, dễ làm mếch lòng người nghe cũng là một đặc điểm riêng của con người xứ Nghệ. Đặc điểm đó hiện rõ trong kết cấu lời thơ. Những lời thơ có đích ở lời tường minh và hành vi trực tiếp được sử dụng trong TCDGXN thường xuyên hơn so với TCDG xứ Bắc. Lời ướm hỏi của các chàng trai, cô gái xứ Bắc xa xôi bóng gió:

Hỏi cây cây đã mấy chồi,

Hỏi người đã có đứng ngồi với ai.

                                      (HVĐBHB, Tr 167)

Còn lời ướm hỏi của các chàng trai, cô gái xứ Nghệ ít khi rào đón mà đi thẳng vào vấn đề:

Hỏi nàng đã có chồng chưa,

Hay là chưa có anh thưa vài lời.

(HPV, Tr 168)

Lời ướm hỏi của trai gái xứ Nghệ nếu có "hoa lá" thì "hoa lá" ấy cũng đơn giản, ngắn gọn, không dẫn dụ vòng vo như TCDG xứ Bắc:

Búp hoa lý là nụ hoa lăng,

Ở nhà thầy mẹ dặn mần răng anh mồ.

(HPV, Tr 166)

Khi hẹn ước với nhau, người con trai xứ Bắc chọn cách trình bày tế nhị:

Bao giờ nàng bén duyên anh,

Cho hoa đầy cành lá lại đầy cây.

Một nhà vui vẻ lắm thay,

Đào đông sánh với liễu tây một nhà.

                                      (HVĐBHB, Tr 173)

Còn chàng trai xứ Nghệ thì không úp mở:

Khi nào kiềng sắt bén mun,

Chàng hun má thiếp, thiếp hun má chàng.

                                      (HPV, Tr 238)                

Với những lời ca dao phản ánh đề tài quan hệ xã hội, tinh thần dân tộc, tính chất mềm mại, uyển chuyển của câu thơ lục bát bị hạn chế tối đa. Giọng điệu câu thơ gần với giọng điệu của lời nói:

Có mô mà khổ mần ri,

Đồng Khánh ở giữa Hàm Nghi hai đầu.

                         (KTCDXN, T2, Tr 210)

Em chê cu li xe, em không lấy cu li xe,

Em lấy thằng bồi liếm đĩa em cũng khoe lấy bồi.

                                      (KTCDXN, T2, Tr 223)

Chất "văn xuôi", "khẩu ngữ" trở thành phương tiện biểu đạt có hiệu quả nội dung, chủ đề của văn bản và tình cảm chủ quan của chủ thể trữ tình.

Là cư dân của nền văn hoá nông nghiệp lúa nước, con người xứ Nghệ cũng như con người Việt Nam trên mọi miền tổ quốc, luôn gắn bó chặt chẽ với cộng đồng làng xã: "Cá nhân trong hệ thống nhân xưng của người Việt là kẻ vô danh, vô diện mạo. Kẻ nói ở ngôi thứ nhất không được hiện diện bằng thực chất của mình. Hắn chỉ được xác định trong và bằng mối quan hệ giữa hắn và kẻ khác. Với người này hắn là cháu, là con, với người khác hắn lại là chú, là cha, là anh,... Trong lời ăn tiếng nói thường ngày, hoặc trong ca dao, tục ngữ, chữ tôi hiếm khi xuất hiện”. [15, tr.102]

Thế nhưng, trong hệ thống nhân xưng của TCDGNT, tính "vô danh" đó được hạn chế. Các tên riêng xuất hiện trong xưng hô như: Nhiêu Ngọ, o Tộ, Sĩ Đường, dì Tương,... trong HG; Nho San, Hoe Ba, Cô Lạng, Song, San, Lương, Quý,... trong HPV và CD. Khi kết hợp các đại từ nhân xưng, các danh từ chỉ quan hệ thân tộc, các đại từ chỉ định với nhau: anh đây, em đây, ta đây, mẹ mi, o mi, dì mi,... Chiếu vật được xác định cụ thể hơn. Lối đài xưng, đề cao cá nhân mình có mặt trong những lời đối đáp. Câu trả lời của cô Lượng (lượng đồng nghĩa với lạng) đáp lại lời đề nghị của chàng trai là một ví dụ:

- Nghe em có lạngvàng mười,

Hỏi thăm có bán mượn người vào cân.

-Ta đâylạngvàng mười,

Trao văn nhân tài tử không bán cho người lái buôn.

(HPV, Tr 318)

Cách đặt vấn đề dựa trên phương thức mua bán đã chạm đến lòng tự trọng của cô gái. Lời đáp tuyên bố rõ ràng mẫu người lý tưởng mà mình lựa chọn: "văn nhân tài tử" đồng thời khẳng định nhân cách, phẩm giá "vàng mười" của cá nhân mình. Thái độ chê trách, coi thường tầng lớp lái buôn biểu lộ công khai, dứt khoát. Cách xưng hô: "ta đây" mà không phải là "em đây" đề cao vị thế của chủ thể phát ngôn. Khẩu khí ngang tàng, tự tin phát ra từ lời hát giao duyên của cô gái xứ Nghệ khác xa lời lẽ các cô gái vùng khác. Lời xưng hô "ta đây" của một người phụ nữ dưới xã hội cũ là một tín hiệu lạ mang ý nghĩa văn hoá. Cùng với "ta đây" là "văn nhân tài tử" và "lái buôn". Tồn tại những lớp người ấy trong một xã hội đã xuất hiện mầm mống thị trường. Đó cũng là lúc ngai vàng của các triều đại phong kiến chao đảo. Trịnh Nguyễn phân tranh, thực dân pháp xâm lược, phong trào Cần Vương rầm rộ trên đất Nghệ Tĩnh... cơ sở xã hội đó là tiền đề để con người xứ Nghệ khẳng định bản ngã của mình. Không chỉ riêng trong lời đối đáp trên đây mới có bóng dáng "văn nhân tài tử". Mẫu người ấy hiện diện trong lời chào hỏi của chị em phường vải. Các kết hợp: Mừng chàng nấu sử sôi kinh, mừng chàng riêng một góc trời, mừng chàng sĩ tử văn tài,... đều có bóng dáng văn nhân tài tử trong đó. Nghệ Tĩnh là một địa bàn mà điều kiện địa lý, tự nhiên, lịch sử, xã hội có những nét đặc biệt hơn so với những vùng khác. Ý thức về bản ngã và giá trị của mỗi cá nhân là một nét tâm thức chi phối, điều khiển cách ứng xử của các thành viên của cộng đồng:

Sông không quản chi nước,

Bụi không sợ chi gây,

Hùm không sợ chi vây.

Nước chó chấm thịt cầy,

Đó chín ngọn dao phay,

Đây mình không không sợ.

Bậu một mình không sợ.

(HGNT, T1 Thượng, Tr 206)

Tự tin, ngang tàng là hệ quả của lòng can đảm. Trong những hoàn cảnh cụ thể nó phát triển thành sự tự do, phóng túng, cực đoan. Vì thế, câu thơ lục bát được mở rộng tối đa. Khuôn khổ 6/8 được nới rộng, có khi dòng lục lên tới 10 âm tiết, dòng bát tới 15 âm tiết. Số lượng âm tiết trong mỗi nhịp thay đổi linh hoạt. Khổ thơ song thất lục bát được tổ chức lại, thay đổi, bổ sung cách phối thanh hoà điệu cho phù hợp với mạch tư duy và điệu cảm xúc. Khuôn khổ chuẩn mực của một khổ giặm không dừng lại ở số lượng năm câu mà có khi lên tới  vài chục câu, câu láy lại cuối khổ, câu kết thúc cuối bài tự do, tuỳ hứng, phụ thuộc vào diễn biến của sự kiện, cảm xúc và hoàn cảnh giao tiếp.

Ý thức khẳng định bản ngã của con người xứ Nghệ còn thể hiện ở chất hài, chất trạng qua những câu hát lỡm, hát nghịch trong đối ca nam nữ. Các hoạt động tính giao, hình ảnh sinh thực khí của nam và nữ dưới dạng cụ thể hay cách điệu hoá được vận dụng linh hoạt, tài tình:

Con rồng kia phải bệnh ngáp dài,

Hỏi chàng quân tử uống bài thuốc chi?

- Hai củ nhân sâm một củ hoàng kỳ,

Ăn vào nó khỏi uống thì nó thôi.

(HPV, Tr 195)

Cái "nghịch ngược", "dí dỏm", "thông minh" cùng với những phẩm chất trên hợp thành khí chất riêng của con người xứ Nghệ được phản ánh trong hình thức, giọng điệu của các TTDG.

3.Chất trí tuệ và trữ tình trong hình thức ngôn từ thơ ca dân gian xứ Nghệ.

Nhiều ý kiến cho rằng, TCDGXN không được mượt mà như TCDG xứ Bắc. Điều đó một phần phụ thuộc vào tâm lý sáng tạo và tiếp nhận văn chương của cộng đồng cư dân xứ Nghệ. Người Nghệ ít bày tỏ tình cảm lộ liễu ồn ào mà kiềm chế tình cảm bằng sự phân tích lý giải tỉnh táo của lý trí. Lý càng vững thì tình càng sâu.Đặc điểm đó thể hiện rõ trên ngôn từ của từng thể loại.

HG thiên về lời thuật sự, hành vi tái hiện là hành vi chủ yếu. Lời giặm được tổ chức theo trình tự diễn biến của sự kiện. Mỗi khổ là một vế, một ý nhỏ trong nội dung toàn bài:

Ôm lấy cam tiếc quýt,

Ôm lấy bưởi tiếc bòng,

Ôm lấy thị tiếc hồng,

Ôm lấy nồi đất tiếc nồi đồng,

Ôm lấy con gái tiếc nạ dòng,

Lạ chi cái thói đàn ông,

Muốn ôm lắc đi cả.

Muốn vơ quàng đi cả.

(HGNT, T1 Thượng, Tr 69)

Điệp cú pháp được khai thác tối đa để khai triển tiểu chủ đề thành các chi tiết, sự kiện, hình ảnh cụ thể. Vấn đề được lật đi lật lại nhiều phía, có tính chất liệt kê, tính liên kết giữa các dòng thơ chặt chẽ, cân xứng. Từng lớp nội dung lần lượt được bóc tách dần theo hướng tiệm tiến và được khái quát lại ở câu láy lại cuối khổ. Đó cũng là kiểu kết cấu riêng của lời HG. Các dòng thơ sắp xếp song hành cùng nhau tạo nên sự so sánh đối chiếu mỗi lúc một cụ thể hoá dần, tiến sát đến vấn đề cốt lõi. Mỗi câu trong khổ gần như một luận cứ, tất cả được tuân theo trình tự kết cấu để dẫn tới kết luận.Từ cam - quýt, bưởi - bòng, thị - hồng, nồi đất - nồi đồng đến con gái - nạ dòng và cuối cùng chủ đề "thói đàn ông" được tường minh hoá, được khái quát lại ở cuối khổ kèm theo thái độ tình cảm và cách đánh giá của chủ thể phát ngôn. Lý lẽ được đặt lên hàng đầu. Các chiếu vật được xác định trực tiếp, cụ thể,  mạch lạc được duy trì. Hành vi chủ hướng là hành vi tường thuật, còn hành vi biểu lộ tình cảm là hành vi phụ thuộc. Giá trị nhận thức nổi trội hơn so với giá trị biểu cảm.

So với HG, cảm xúc trữ tình ở lời HPV và KTCDXN nổi bật hơn nhiều nhờ phương thức biểu hiện chiếm ưu thế. Mặc dầu vậy tính lôgíc vẫn là nét trội bên cạnh tính chất trữ tình. Biện pháp thay đổi nhịp điệu và tăng số lượng âm tiết trong các dòng thơ đã làm cho ngữ điệu câu thơ xích lại gần với ngữ điệu lời nói. Chất văn xuôi xuất hiện. So sánh:

a. Đêm khuya/ cưởi xuống/ mù chan,

Thiếp đưa khăn nhiễu/ cho chàng che sương.

b. Đêm khuya/ ta chống một cây sào,

Sâu nơi mô cho biết/ cạn nơi nào cho quen.

                                      (HPV, Tr 226)

So với câu (a) câu (b) có ngữ điệu văn xuôi rõ nét nhờ sử dụng nhịp lẻ 25/55. Số lượng âm tiết dòng bát tăng so với bình thường. Thế đối xứng: "Sâu nơi mô cho biết/ cạn nơi nào cho quen." tạo nên sự đối chiếu so sánh. Các biện pháp đối, biến nhịp, điệp cú pháp có vai trò tạo ra nhiều kết cấu đối sánh như vậy:

Đói mà dễ ở dễ ăn,

Giàu mà cửa cổng cửa ngăn khó vào.

                                      (KTCDXN, T2, Tr 221)

Điệp cú pháp đã biến hai vế lục bát thành hai phán đoán song hành tương phản với nhau, hình thành một quan hệ lập luận giữa chúng để dẫn tới kết luận ngầm ẩn: Đói nghèo mà hiền thảo thì hơn giàu có mà keo kiệt. Cách tổ chức lời thơ như vậy  có tác dụng đào sâu nhận thức, tác động vào tư duy lý tính. Câu thơ kích thích phản ứng thẩm mỹ bằng màu sắc trí tuệ của mình.

Không phải ngẫu nhiên mà TCDGXN sử dụng nhiều hư từ. Nhu cầu trực tiếp phát biểu quan niệm, tư tưởng, nhận xét của người Nghệ đòi hỏi phải có những hình thức kết cấu thích hợp.

Giàu mà ngốc nghếch ngu si,

Đói mà biết cậu biết gì còn hơn.

                                      (KTCDXN, T2, Tr 224)

Theo lẽ thường "giàu" hơn "đói" và "biết cậu biết gì" hơn "ngốc nghếch ngu si". Vậy: giữa "giàu" và "ngốc nghếch ngu si" với "đói" và "biết cậu biết gì" kết luận sẽ nghiêng về giá trị vật chất (lựa chọn giữa giàu và đói) hay nghiêng về giá trị tinh thần (lựa chọn giữa "biết cậu biết gì" với "ngốc nghếch ngu si")? không loại trừ khả năng kết luận nghiêng về giá trị vật chất:

Giàu mà ngốc nghếch ngu si,

Còn hơn đói biết cậu dì anh em.

Nhưng hướng lựa chọn đó không xảy ra. Thêm một lẽ thường mới được khẳng định: Đói khổ mà biết ứng xử, biết thương yêu nhau còn hơn giàu có mà ngu ngốc, thiếu tình nghĩa. Các hư từ tường minh hoá lẽ thường trong lập luận đó. Các hư từ vừa là phương tiện tổ chức lí lẽ, vừa là phương tiện biểu đạt cảm xúc. Tuy nhiên khi sử dụng hư từ, sử dụng các biện pháp điệp và đối tổ chức văn bản thì yếu tố lí lẽ nổi lên hàng đầu. Cảm xúc được biểu đạt thông qua con đường lí lẽ. Lí lẽ sâu sắc sẽ làm tình cảm nảy sinh.

Những điều trên đây cho thấy chất trí tuệ nằm trong cách thức tổ chức văn bản, cố định trong mô hình kết cấu lời thơ, trở thành một nét văn hoá bền vững của TCDG xứ Nghệ. Đặc điểm đó càng nổi bật trong chặng hát đố hát đối của HPV. Nội dung đố và đối không dừng lại ở các sự vật hiện tượng cụ thể, quen thuộc trong đời sống có thể nhận biết bằng con đường tái hiện mà đề cập tới những sự, vật, việc, vấn đề đòi hỏi phải suy lý, khái quát hoá, trừu tượng hoá, phải có năng lực phân tích, quy nạp,... mới giải đáp được. Hát đố trong TCDG xứ Bắc  thường dừng lại ở mức độ tái hiện:

Cái gìanh trút vào sanh,

Cái gìnó ở trên cành nó lại xanh tươi.

                                      (HVĐBHB, Tr 74)

Công thức "cái gì + đặc điểm của "cái gì"." đã miêu tả vật đố cụ thể nên rất dễ phát hiện:

Thịt cáanh trút vào sanh,

Bông hoanó ở trên cành nó lại đẹp tươi.

                                      (HVĐBHB, Tr 75)

Chỉ cần một thao tác: Lựa chọn các từ ngữ có biểu vật thay thế thích hợp vào vị trí "cái gì" là hoàn thành nhiệm vụ giảng đố.

Khác với TCDG xứ Bắc, hát đố, hát đối trong HPV là những "bài toán" hóc hiểm, ở đó, các điển tích, điển cố, các từ Hán Việt phối hợp với các biện pháp chơi chữ khác nhau khiến cho lời đối đáp dân gian thực sự nhuốm màu trí tuệ.

Ai xô ông Tể ông Tể Ngã,

Ai lôi ông Phàn, ông Phàn Trì?

Chàng mà đối được thiếp nữ nhi theo về.

- Ai đạp ông mà ông Cô Trúc,

Ai đơm vua mà vua Vũ vương?

Anh đà đối được thì nường tính răng?

                                   (HPV, Tr 181)

Vũ vương sáng lập nhà Chu. Cô Trúc là một vị vua đời Xuân Thu. Tể Ngã, Phàn Trì đều là học trò của Khổng Tử. Tể Ngã, Phàn Trì, Cô Trúc, Vũ vương trong văn cảnh đều được hoán cải quan hệ cú pháp, trở thành các kết cấu C.V: Ông Tể/ ngã, ông Phàn/ trì, ông Cô/ trúc, ông Vũ/ vương. Từ đó biện pháp chơi chữ đồng âm được thực hiện. "Ngã", "trì", "trúc", "vương" trong "Tể Ngã", "Phàn Trì", "Cô Trúc", "Vũ vương" đồng âm với các động từ: ngã, trì (níu kéo), trúc, vương thuần Việt.

Nhận xét về CDXN, Nguyễn Phương Châm cho rằng: "Nhiều lời CDXN mang giọng điệu, âm hưởng, hơi thở của văn chương bác học... Với vốn chữ Hán khá thuần thục và tinh tế, CDXN thực sự nhuốm màu nho học... Chắc chắn là có sự đóng góp tài trí của đội ngũ nho học, trí thức xứ Nghệ." [3, tr.46]. Người viết đồng tình với nhận định trên nhưng xin bổ sung thêm: Tính chất trí tuệ, bác học của TCDGXN nằm ngay trong hình thức kết cấu lời thơ. Nhiều lời thơ không liên quan đến các điển tích, điển cố mà vẫn giàu tính trí tuệ:

Gừng già càng rụi càng cay,

Anh hùng càng cực càng dày nghĩa nhân.

                                                 (T2, Tr 225)

Hai dòng lục bát điệp cú pháp với nhau. Mỗi dòng là một lẽ thường đã được đúc kết qua kinh nghiệm dân gian. Các phụ từ càng - càng khẳng định chắc chắn các kết luận trong lập luận.

Tính chất trí tuệ, tính chất văn xuôi của TCDG phản ánh tính cách con người xứ Nghệ. Con người xứ này điềm tĩnh, trung thực; kiên quyết, ngang tàng và cũng rất thông minh linh hoạt, rất giàu tình cảm. Những nét tính cách tưởng như trái ngược ấy thống nhất chặt chẽ cùng nhau và biểu hiện qua hình thức kết cấu của câu thơ dân gian.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, NXB TP Hồ Chí Minh, 1992.

2. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB tp Hồ Chí Minh, 1990.

3. Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ, NXB VHTT, 2001.

4. Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, tập hai, Ngữ dụng học, NXB GD, 2001.

5. Ninh Viết Giao, Kho tàng ca dao xứ Nghệ, NXB Nghệ An, 1996.

6. Phan Ngọc, Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, NXB Văn hóa thông tin, 1994.

7. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: Cái nhìn hệ thống - loại hình, NXB tp Hồ Chí Minh, 1996.

8. Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn hóa dân tộc, H, 2000.


 

Bài mới nhất

Bài nhiều người đọc nhất: