Lớp từ tương ứng ngữ âm với từ toàn dân trong phương ngữ Thanh Hóa

Viện nghiên cứu Văn hóa và Ngôn ngữ

Số lượt xem:
263381

Trang web hiện có:
14 khách & 0 thành viên trực tuyến

Lớp từ tương ứng ngữ âm với từ toàn dân trong phương ngữ Thanh Hóa

Tác giả: Nguyễn Thị Thắm
Ngày đăng: Chủ nhật, 23 Tháng 10 2011 08:40

1. Nghiên cứu tiếng địa phương Thanh Hóa là một vấn đề chưa được nhiều người quan tâm; cho đến nay, mới có một số ít nhà nghiên cứu ngôn ngữ đi vào nghiên cứu phương ngữ này trên một vài khía cạnh, ở những mức độ rộng hẹp khác nhau. Đề cập đến tiếng địa phương Thanh Hóa, trước hết phải kể đến công trình Phương ngữ học của GS. Hoàng Thị Châu [3].

Trong công trình này, GS đã đưa ra nhiều ý kiến xác đáng về phân chia vùng phương ngữ và đặc điểm chung của các vùng phương ngữ đó. Theo tác giả, phương ngữ Thanh Hóa thuộc vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ. Đồng thời bà cũng chỉ ra rằng, phương ngữ Thanh Hóa là một trong hai tiểu vùng của phương ngữ Bắc Trung Bộ mang một số đặc điểm phương ngữ chuyển tiếp. Người quan tâm nghiên cứu đến phương ngữ này nhiều hơn cả là tác giả Phạm Văn Hảo. Ngoài công trình Nghiên cứu đặc điểm ngữ âm tiếng Thanh Hóa (Luận án Tiến sĩ bằng tiếng Nga), hiện nay tài liệu công bố trong nước duy nhất chỉ có bài viết của tác giả Về một số đặc trưng tiếng Thanh Hóa, thổ ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (1985) [4] là trực tiếp bàn về phương ngữ này. Đây là bài viết gợi ý nhiều cho chúng tôi đi đến thu thập vốn từ địa phương Thanh Hóa. Ở công trình này, ông cùng chung quan điểm với Giáo sư Hoàng Thị Châu, xem tiếng địa phương Thanh Hóa là phương ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, đồng thời tác giả cũng nêu và nhận xét về đặc trưng của tiếng Thanh Hóa. Ngoài ra, còn có một số tác giả khác khi phân vùng phương ngữ tiếng Việt cũng đã đề cập đến phương ngữ Thanh Hóa trong các bài viết của mình, như Trương Văn Sinh, Nguyễn Thành Thân trong Về vị trí của tiếng địa phương Thanh Hóa [8]. Hai tác giả đã nhận xét về vị trí không ổn định của tiếng địa phương Thanh Hóa trong bảng phân loại của các nhà nghiên cứu khi bàn về vấn đề phân vùng phương ngữ, hoặc xếp phương ngữ này vào vùng phương ngữ  Bắc Bộ hoặc định vị nó thuộc vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ. Hai ông đề nghị nên xếp tiếng địa phương Thanh Hóa vào phương ngữ Bắc Trung Bộ cùng với tiếng địa phương Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên.

Như vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu có liên quan đến tiếng địa phương Thanh Hóa, ta thấy phương ngữ này chưa được quan tâm đúng mức và chưa có sự định vị thống nhất. Qua các công trình nghiên cứu của nhiều tác tác giả, chúng ta thấy, các nhà nghiên cứu mới chỉ dựa vào một số tư liệu ít ỏi, với một số ví dụ không phong phú để nhận xét, đánh giá, rút ra các đặc điểm, cho nên về vị trí và đặc điểm của tiếng địa phương Thanh Hóa vẫn là những vấn đề cần tiếp tục làm rõ. Do đó chúng tôi đã nhiều năm tập trung điền dã thu thập vốn từ gồm 4800 đơn vị và tiến hành khảo sát nghiên cứu từng bước. Trên cơ sở nguồn cứ liệu đó, bước đầu có thể kiểm chứng những nhận định của các tác giả đi trước và hi vọng đi sâu hơn hơn vào mặt từ vựng - ngữ nghĩa để rút ra một vài đặc điểm về âm và nghĩa, góp phần làm rõ hơn bộ mặt từ vựng phương ngữ Thanh Hóa.

2. Chúng tôi đã tiến hành so sánh về mặt ngư âm và ngữ nghĩa giữa từ địa phương Thanh Hóa với từ toàn dân và từ địa phương Nghệ Tĩnh dựa trên tư liệu công trình Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh (Nguyễn Nhã Bản - Chủ biên) [1] và Luận án Tiến sĩ của tác giả Hoàng Trọng Canh: Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phương Nghệ Tĩnh [2] Trên cơ sở đối chiếu so sánh, chúng tôi rút ra đặc điểm ngữ âm và ngữ nghĩa lớp từ địa phương Thanh Hóa. Sở dĩ chúng tôi so sánh với từ địa phương Nghệ Tĩnh vì tiếng Nghệ Tĩnh là phương ngữ điển hình nhất thể hiện đầy đủ nhất đặc điểm của vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ, như ý kiến của Hoàng Thị Châu [3], Hoàng Trọng Canh [2], Nguyễn Văn Nguyên [7] đã khẳng định. Kết quả đối chiếu từ địa phương Thanh Hoá với từ địa phương nghệ Tĩnh về mặt ngữ âm đã được chúng tôi công bố trong bài viết tham gia Hội thảo Ngữ học trẻ 2008. ở đây chúng tôi xin đi vào khảo sát tiếp hai lớp từ có sự biến đổi về âm so với từ tàn dân.

2.1. Những từ vừa tương ứng về âm vừa tương đồng về nghĩa

Đây là kiểu loại từ có số lượng lớn nhất trong tổng số các từ phương ngữ được tạo thành bằng con đường biến đổi ngữ âm, gồm 1918 đơn vị (chiếm 40%). Trong khi đó ở phương ngữ Nghệ Tĩnh, theo thống kê của tác giả Hoàng Trọng Canh [2] trong luận án tiến sĩ thì ở kiểu loại này phương ngữ Nghệ Tĩnh có 2032 đơn vị (chiếm 32, 9%). Như vậy, so với phương ngữ Nghệ Tĩnh thì từ biến âm thuộc kiểu loại này trong phương ngữ Thanh Hóa  chiếm tỷ lệ cao hơn 1,2 lần.

Trong lớp từ này có những từ là kết quả biến đổi lịch sử của các tổ hợp phụ âm cổ có âm lỏng trong tiếng Việt như: BL, TL, ML... mà nay thường là một dạng thức được dùng trong phương ngữ. Chẳng hạn: mlặt - nhặt (toàn dân), lặt (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh); mlài - nhài (toàn dân), lài (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh); mlát - nhát (toàn dân), lát (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh); mlạt - nhạt (toàn dân), lạt (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh); tlộn - trộn (toàn dân), lộn (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh); tlèo - leo (toàn dân), trèo (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh). Hoặc do những biến đổi ngữ âm lịch sử của tiếng Việt ở các thời kỳ, ở phụ âm đầu hoặc phần vần như: bưa - vừa, thổ - dỗ, chí -  chấy, đàng - đường, viền - về,... sự khác biệt về nghĩa giữa từ địa phương với từ toàn dân tương ứng ngữ âm với nó là không đáng kể. Về cơ bản, chúng có sự đồng nhất về nghĩa với từ toàn dân. Các từ địa phương kiểu này có quan hệ tương ứng ngữ âm, ngữ nghĩa rất chặt với từ toàn dân nên chúng rất dễ được nhận dạng cả về mặt âm và nghĩa qua so sánh, đối chiếu dạng thức của nó trong tiếng địa phương với từ trong ngôn ngữ toàn dân.

Để làm rõ được điều này ta có thể phân tích một vài ví dụ:

Chẳng hạn: nác nước là cặp đồng nhất với nhau về nghĩa được tạo ra do biến thể ở phần vần. Theo Từ điển tiếng Việt (2002) do Hoàng Phê chủ biên [9] thì nước có 5 nghĩa: 1. Chất lỏng không màu, không mùi và trong suốt khi là nguyên chất, tồn tại trong tự nhiên ở sông, hồ, biển; 2. Chất lỏng nói chung; 3. Lần lượt sử dụng nước thường là đun sôi cho một tác dụng nhất định nào đó; 4. Lớp quét, phủ bên ngoài cho bền, đẹp; 5. (Kết hợp và hạn chế) vẻ ánh, bóng tự nhiên của một số vật tựa như có một số lớp mỏng chất phản chiếu ánh sáng nào đó phủ bên ngoài. Đối chiếu với nước như 5 nghĩa mà từ điển chỉ ra thì chúng ta thấy về cơ bản nác tương đồng 4 nghĩa đầu của nước. Người Thanh Hóa thường nói tự nhiên với các kết hợp: nác mưa, nác lũ, nác noóng,... Đối chiếu với nghĩa thứ 5 của nước, chúng tôi thấy nác thường ít được dùng như vậy. Nói đúng hơn nếu cần thể hiện nội dung như vậy, người Thanh Hóa lại dùngnước chứ không dùng nác. Trong trường hợp này dùng như thế mới là tự nhiên, còn dùng nác lại trở thành không bình thường. Ví dụ: nước sơn bóng nhoáng. Ngoài ra, chúng tôi còn thấy khi nước được dùng trong các từ ghép cùng với các yếu tố khác, ít nhiều mang nghĩa biểu trưng, trừu tượng, hoặc chỉ về khái niệm như:đất nước, nước non, nước cứng, nước mềm, nước nặng thì chẳng có người Thanh Hóa nào lại dùng nác thay cho nước trong các kết hợp đó.

Tương tự, so sánh từlả  với từ  lửa cũng thấy hầu hết các kết hợp của từ lửa nhằm chỉ: 1. Nhiệt ánh sáng phát sinh đồng thời từ vật đang cháy; 2. Trạng thái, tinh thần, tình cảm sôi sục, mạnh mẽ. Chúng tôi thấy, lả có thể kết hợp theo nghĩa của từ lửa nêu trên. Bởi người Thanh Hóa vẫn quen nói: Xin tí lả, lả bén, châm lả, lả đổ thêm dầu... Nhưng trong phong cách văn chươnglảkhông được dùng rộng rãi tự nhiên với nghĩa tu từ nghệ thuật như lửa.Nên chỉ nói: Ngọn lửa căm thù, lửa cách mạng, cơn binh lửa...mà không thấy ai dùng lảtrong các kết hợp đó bao giờ. Ngay cả trong những sinh hoạt văn hoá, ngày nay, người nông thôn cũng chỉ dùng lửachứ không dùng từ lả(như vẫn nói:đêm lửa trại).

Nếu so sánh kiểu nghĩa này với phương ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi thấy giữa phương ngữ Thanh Hóa và phương ngữ Nghệ Tĩnh đều có cách dùng giống nhau. Nói cách khác, như chúng tôi phân tích hai ví dụ ở trên, thì phương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữ Thanh Hóa có cách dùng giống nhau. Như vậy, có thể nói rằng, do phương ngữ Thanh Hóa nằm trong vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ cho nên mang đặc điểm chung của vùng phương ngữ này.

Từ các ví dụ nêu trên, ta thấy về căn bản các từ địa phương kiểu loại này giống nghĩa với từ toàn dân tương ứng ngữ âm với nó, sự khác nhau về nghĩa là không đáng kể, chủ yếu thể hiện ở phong cách khoa học và nghệ thuật, ở các sắc thái nghĩa tu từ, biểu trưng hoặc thuật ngữ chuyên môn. Điều đó chứng tỏ khả năng hoạt động của từ địa phương hạn chế hơn từ toàn dân, phạm vi sử dụng của nó bị thu hẹp, chủ yếu dùng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Hay nói cách khác, sự khác biệt về nghĩa giữa từ địa phương với từ toàn dân loại này là do khả năng, phạm vi được sử dụng ngày càng rộng rãi trong các lĩnh vực, trong các phong cách khác nhau của từ toàn dân so với khả năng ngày càng hạn chế của từ địa phương. Điều đó cũng cho thấy vai trò to lớn của từ toàn dân, của chuẩn ngôn ngữ và xu hướng mở rộng dùng từ toàn dân, hạn chế dùng từ địa phương đang diễn ra một cách tự nhiên trong xã hội.

2.2. Những từ tương ứng ngữ âm nhưng biến đổi ít nhiều về nghĩa

Lớp từ này gồm những từ dùng trong phương ngữ Thanh Hóa, tương ứng về ngữ âm với từ dùng trong ngôn ngữ toàn dân, cùng biểu thị một sự vật, hiện tượng, tính chất, khái niệm nhưng có những nét khác biệt trên những nghĩa, nét nghĩa cụ thể. Sự phân li về nghĩa giữa từ địa phương và từ toàn dân kiểu này khá rõ. Nói cách khác, về hình thức, từ địa phương vốn là biến thể ngữ âm của từ toàn dân về phụ âm đầu, về phần vần hoặc thanh điệu, nên bên cạnh sự khác nhau về một trong các bộ phận đó, giữa từ địa phương và từ toàn dân phải giống nhau bộ phận ngữ âm còn lại, kiểu như:Lanh - nhanh, lạt - nhạt, ló - lúa, lổ- trổ...Về nghĩa, từ địa phương có những biến đổi khác với từ toàn dân tương ứng ngữ âm ở một vài nghĩa nào đó chứ không chỉ là sự khác nhau về sắc thái kết hợp hay phong cách như ở kiểu (2.1). Sự biến đổi về nghĩa như vậy, nguyên nhân chính là do sự phát triển nghĩa của từ đa nghĩa. Có thể hình dung về con đường biến đổi nghĩa của từ địa phương một cách ước định chung nhất rằng: Từ địa phương và từ toàn dân vốn là biến thể ngữ âm của nhau, nhưng khi hai hình thức biến thể này được sử dụng trong hai hệ thống khác nhau, một trong hai đơn vị, hoặc có thể cả hai cùng phát triển nghĩa, tuy cùng theo quy luật chung nhưng mỗi từ lại chịu sự chi phối của những quan hệ riêng trong từng hệ thống, vì thế mà số lượng nghĩa phái sinh cũng như hình  thức phát triển nghĩa có thể không song hành với nhau. Như vậy, những từ địa phương kiểu này vừa có sự biến đổi về ngữ âm vừa có sự biến đổi về ngữ nghĩa so với từ toàn dân. Một số người gọi nó là từ giao thoa ngữ âm, ngữ nghĩa, hay từ vừa là biến thể ngữ âm, vừa là biến thể từ vựng ngữ nghĩa. Do hiện tượng phát triển, biến đổi ngữ nghĩa trong từ địa phương như vậy nên đối với bộ phận từ vựng này, khi cần giải thích không thể chỉ là định nghĩa qua từ có nghĩa tương đương trong ngôn ngữ toàn dân. Bởi vì, trong thực tế, có những nghĩa phái sinh của từ có thể không tương đồng về nghĩa với từ vốn là biến thể ngữ âm của nó mà lại tương đồng với một từ khác. Khi ta so sánh các từ đồng nghĩa là từ đa nghĩa, thực chất là so sánh các nghĩa của từ đó chứ không phải so sánh các từ với nhau.

Số lượng từ mà chúng tôi thống kê thuộc lớp từ này là 630 đơn vị. Nếu so với từ biến đổi ngữ âm thì loại này chiếm 13,2%. Còn ở phương ngữ Nghệ Tĩnh, theo thống kê của Hoàng Trọng Canh [2] thì ở kiểu loại này 828 đơn vị (chiếm tỉ lệ 13,4%). Như vậy, qua so sánh ta thấy, ở kiểu loại này phương ngữ Thanh Hóa cũng chiếm tỉ lệ tương đương so với phương ngữ Nghệ Tĩnh.

Có thể so sánh một số từ trong phương ngữ có sự tương ứng về ngữ âm, nhưng biến đổi ít nhiều về nghĩa so với từ toàn dân. Lấy trường hợp từ bảnlàm ví dụ. Bản - bãilà biến thể ngữ âm của nhau (theo quy luật chung biến đổi phụ âm cuối) ï-nïthành bán nguyên âm ïiïtrong tiếng Việt, cùng kiểu tương ứng : cản - cải, khản - khải, chản - chải, củn - củi... vừa đồng nhất lại vừa dị biệt. Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên [9], bãi có hai nghĩa: 1 - Khoảng đất bồi ven sông, ven biển hoặc nổi lên giữa dòng nước lơn. Ví dụ: bãi phù sa, bãi biển... 2 - Khoảng đất rộng rãi và thường là bằng phẳng, quang đãng, có một đặc điểm nào đó. Qua so sánh nghĩa của các từ bản bãichúng tôi thấy: từ bảntrong phương ngữ Thanh Hóa có hai nghĩa giống với từ bãitrong ngôn ngữ toàn dân  là nghĩa 1 và 2. Ngoài ra, từ bảntrong phương ngữ Thanh Hóa còn có một nghĩa nữa mà ở từ toàn dân bãikhông có đó là: cánh đồng rộng lớn chỉ trồng một loại cây. Ví dụ: bản lạc, bản ngô.

Nếu so sánh với phương ngữ Nghệ Tĩnh về kiểu loại từ này, nghĩa của từ trong phương ngữ Nghệ Tĩnh thường có các biến đổi nghĩa như sau:

Theo phân tích của Hoàng Trọng Canh [2] thì trước hết chúng ta phải kể đến những biến thê ngữ âm như: bấp- vấplà những biến thể ngữ âm theo quy luật chung biến đổi phụ âm đầu ïbï-ïvïtrong tiếng Việt, cùng kiểu tương ứng: bẹo/véo, bíu/víu, be/ve... chúng vừa đồng nhất lại vừa dị biệt về nghĩa. Theo Từ điển tiếng Việt, vấp  có 3 nghĩa: 1- Va mạnh chân vào một vật, do vô ý lúc đang đi; 2- Bị ngắc ngữ chứ không lưu loát, trôi chảy; 3- Gặp phải trở ngại hoặc thất bại một cách bất ngờ [9, tr.1067]. Theo phân tích của Hoàng Trọng Canh, bấp trong phương ngữ Nghệ Tĩnh có 3 nghĩa như sau: 1-Va mạnh chân vào một vật, do vô ý lúc đang đi; 2- Đụng phải, chạm tới vật gì đó; 3- Gặp phải trở ngại hoặc thất bại một cách bất ngờ.

So sánh nghĩa của bấp với vấp ta thấy hai từ này giống nhau ở nghĩa thứ nhất của nó nhưng đều khác nhau ở nghĩa thứ hai của mỗi từ. Bấp không có nghĩa nào giống nghĩa thứ hai của vấp. Vì thế có thể nói:đọc một hơi không hề vấp, mà không nói: đọc một hơi không hề bấp. Ngược lại nếu so sánh nghĩa của từ vấp với bấp thì trong cơ cấu nghĩa của vấp cũng không có nghiã nào tương đồng với nghĩa thứ hai của bấp nêu trên. Tương đồng với nghĩa này của bấp, trong tiếng Việt toàn dân phải là đụng, chạm. Thêm một điểm phân biệt nhỏ khác, nghĩa thứ 3 của bấp tương ứng không hoàn toàn với nghĩa 3 của vấp; giống ở chỗ cùng chỉ sự  “gặp phải trở ngại khó khăn bất ngờ”, khác ở nét nghĩa: bấp không chỉ sự “gặp phải thất bại” như vấp. Nên, đối với vấp có thể nói:Bị vấp nhiều trong công tác, Mới ra trường tránh sao khỏi vấp, nhưng đối vớibấp người Nghệ Tĩnh không nói như thế. Như vậy, so sánh bấp với vấp ta thấy hai từ này giống nhau một nghĩa, khác nhau một nghĩa và một nghĩa vừa giống vừa khác.

Một ví dụ khác, trong phương ngữ Nghệ Tĩnh có từ bây là biến thể ngữ âm tương ứng với vấy trong ngôn ngữ toàn dân, theo quy luật biến đổi phụ âm đầu: |b| ®|v|   như trường hợp bấp-vấp đã phân tích ở trên. Theo từ điển tiếng Việt, vấy  có hai nghĩa: 1- Dính chất dơ bẩn hoặc đáng ghê tởm; 2- (dùng phụ sau một vài động từ). "Trút bừa tội lỗi sang người khác để trốn hoặc nhẹ bớt trách nhiệm" [9, tr.1070]. Theo phân tích của Hoàng Trọng Canh [2], bây có các nghĩa sau: 1- Làm vấy bẩn, bừa bộn ra nhiều chỗ: Bây bùn lên nền gạch; Quần áo bây đầy dầu mỡ; 2- làm đụng đến nhiều việc nhưng đều bỏ dở, không đâu vào đâu, chỉ tạo nên sự bừa bộn: Việc cơ quan hấn cứ bây ra nhưng nỏ việc chi xong. Đối chiếu các nghĩa của bây với các nghĩa của vấy, ta thấy, về cơ bản nghĩa (1) của bây giống với nghĩa (1) của vấy nhưng bây không có nghĩa nào tương đồng với nghĩa thứ hai của vấy. Vì thế, trong ngôn ngữ toàn dân, lối nói: Đổ vấy trách nhiệm cho bạn; Khai vấy lung tung, là bình thường về mặt ngữ pháp thì trong phương ngữ không thấy nói:Đổ bây trách nhiệm cho bạn; Khai bây lung tung. Ngược lại, vấy cũng không có nghĩa nào giống nghĩa (2) của bây nên cũng chẳng có thể nói: Việc ở cơ quan, hắn cứ vấy nhưng chẳng có việc gì xong. Như vậy, cả hai từ bâyvấy nằm trong hai hệ thống vốn từ khác nhau, do sự phát triển nghĩa riêng của mỗi từ nên bên cạnh nghĩa gốc giống nhau, các từ đó đều khác nhau ở nghĩa phái sinh.

Từ các ví dụ trên của hai phương ngữ Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh, chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau: ở kiểu loại: các từ có sự tương ứng về ngữ âm nhưng biến đổi ít nhiều về nghĩa của phương ngữ Thanh Hóa và phương ngữ Nghệ Tĩnh cơ bản là giống nhau, tuy vậy vẫn có những điểm khác nhau. Cụ thể, từ ngữ trong phương ngữ Thanh Hóa thường biến đổi vần, bán nguyên âm thành phụ âm cuối, chẳng hạn: bản - bãi; cân - cây như chúng tôi đã phân tích ở trên. Còn từ ngữ trong phương ngữ Nghệ Tĩnh chủ yếu biến đổi ở phụ âm đầu, chẳng hạn: bây - vấy; bấp - vấp (theo phân tích của Hoàng Trọng Canh). Tuy nhiên, vì cùng nằm trong vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ, hơn nữa lại là hai tỉnh tiếp giáp nhau cho nên, từ ngữ phương ngữ Thanh Hóa và từ ngữ phương ngữ Nghệ Tĩnh ngoài sự khác nhau thể hiện những đặc trưng riêng của từng phương ngữ thì vẫn có những biến đổi giống nhau. Chẳng hạn, từ lanh - nhanh, lanh trong phương ngữ Thanh Hóa và phương ngữ Nghệ Tĩnh có thể là biến thể cùng gốc với vốn từ toàn dân, cùng dạng biến thể với nhát - lát; nhặt lặt; lạt - nhạt...mà lưu tích của nó còn thấy rõ trong  Từ điển Việt - Bồ - La của  A. de Rhodes  [12, tr.149 -150]. Lanh có nhiều nghĩa và sự phát triển nghĩa khá song hành với nhanh, nên có tới 5 nghĩa đồng nhất với 5 nghĩa của nhanh : 1- (Thường dùng phụ sau động từ). Có tốc độ, nhịp độ trên mức bình thường; trái với chậm.Đi nhanh/lanh nên về sớm nửa giờ; 2 - (đồng hồ) có tốc độ trên mức bình thường nên chỉ giờ sớm hơn so với thời điểm chuẩn; trái với  chậm. Đồng hồ chạy nhanh/lanh; 3- (dùng trước một số danh từ chỉ bộ phận cơ thể). Có hoạt động kịp thời. Nhanh/lanh chân chạy thoát; 4- (thường dùng phụ sau động từ). Tỏ ra có khả năng tiếp thu, phản ứng hoạt động ngay tức khắc hoặc liền sau một thời gian rất ngắn. Hiểu lanh / nhanh; 5- (việc làm) chỉ diễn ra trong thời gian ngắn. Đọc lướt nhanh /lanh tờ báo. Tuy vậy, theo Từ điển tiếng Việt, do Hoàng Phê chủ biên, nhanh không có nghĩa nào giống nghĩa thứ 6 của lanh, chỉ sự siêng năng chăm chỉ. O nớ đã giỏi việc cơ quan lại lanh việc nhà (Cô ấy đã giỏi việc cơ quan lại chăm chỉ việc nhà); Con hai đứa, đứa lanh, đứa nhác (Con hai đứa, đứa siêng năng, đứa lười nhác). Nghĩa này của từ lanh được dùng rất rộng rãi.

3. Từ các phân tích miêu tả, trình bày ở trên, ta thấy, các từ trong phương ngữ là biến thể của một  hình thức từ ngữ toàn dân tương ứng trên cả hai phương diện ngữ âm và ý nghĩa. Từ địa phương và từ toàn dân, bên cạnh những điểm tương đồng tạo nên liên hệ gắn bó giữa từ hai hệ thống, giữa chúng có sự phân li với những mức độ khác nhau (cũng trên cả hai phương diện  ngữ âm và ý nghĩa) đã tạo nên sự khu biệt giữa từ địa phương và từ toàn dân. Các đơn vị từ vựng này được tạo ra như vậy rõ ràng là có tính đồng loạt, theo những quy luật phát triển và biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa của tiếng Việt. So sánh nghĩa giữa các từ biến âm cùng một gốc  từ, hay từ này là biển thể ngữ âm vủa từ kia như trên, chúng tôi thấy rằng, cả hai kiểu (2.1) và (2.2) ít nhất đứng ở góc độ phương ngữ cũng thấy sự biến đổi ngữ âm có quy luật như vậy là có giá trị tạo từ. Và phải chăng, đây cũng là một dạng biểu hiện của phương thức biến âm tạo từ tiếng Việt mà gần đây một số tác giả  như: Vũ Đức Nghiệu trong "Các mức độ tương đồng và tách biệt trong một kiểu tổ chức nhóm từ của tiếng Việt" [6]; Nguyễn Đức Tồn trong "Suy nghĩ qua một hiện tượng chuyển âm cấu tạo từ trong tiếng Việt: lui và lùi" [11], đã đề cập trong các nghiên cứu của mình, dù rằng các cặp biến thể ngữ âm chúng tôi đang nói đến, nay một từ dùng trong vốn từ địa phương, một từ thuộc vốn từ toàn dân.

Qua đối chiếu so sánh về âm và nghĩa giữa từ địa phương Thanh Hoá với từ địa phương Nghệ Tĩnh trên hai kiểu loại từ chúng ta thấy sự khác biệt giữa từ địa phương thanh Hoá với từ địa phương Nghệ Tĩnh là không đáng kể, thậm chí những ví dụ mà chúng tôi đưa ra đối chiếu thì trong tiếng Nghệ Tĩnh cũng giống như vậy. Điều đó cho phép chúng tôi kết luận, về cơ bản hai kiểu loại từ nói trên giống với từ địa phương Nghệ Tĩnh. Dù còn phải tiến hành đối chiếu trên nhiều lớp từ khác nữa nhưng nếu dừng lại ở đây cho phép chúng ta kết luận từ địa phương Thanh hoá có đặc điểm từ vựng về cơ bản giống từ địa phương Nghệ Tĩnh, phương ngữ Thanh Hoá là thuộc vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ cùng phương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữ Bình Trị Thiên.

Tài liỆu tham khẢo

1. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Hoàng Trọng Canh, Phan Mậu cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên (1999), Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, NXB Văn hoá Thông tin.

2. Hoàng Trọng Canh (2001), Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phương Nghệ Tĩnh, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường ĐHKHXH và NV, ĐHQG Hà Nội.

3. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, NXB ĐHQG Hà Nội.

4. Phạm Văn Hảo (1985),Về một số đặc trưng của tiếng Thanh hoá, thổ ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, Ngôn ngữ,  Số 4, tr. 54 - 56.

5. Phạm Văn Hảo (1988),Về đặc trưng một số đường đồng ngữ trong các phương ngữ  tiếng Việt, Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam á, Hà Nội, tr. 64 - 67.

6. Vũ Đức Nghiệu, Các mức độ tương đồng và tách biệt trong một kiểu tổ chức nhóm từ của tiếng Việt, Ngôn ngữ, số 1, 199, tr.22 -28.

7. Nguyễn Văn Nguyên (2003), Miêu tả đặc trưng ngữ âm phương ngữ Nghệ Tĩnh, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Vinh.

8. Trương Văn Sinh, Nguyễn Thành Thân (1985), Về vị trí của tiếng địa phương Thanh Hoá, ngôn ngữ, số 4, Tr. 64 - 65.

9. Hoàng phê (2002), Từ điển tiếng Việt, NXB. KHXH.

10. Nguyễn Thị Thắm (2007), Đặc điểm từ địa phương Thanh Hoá, Khoáluận tốt nghiệp, Trường ĐH Vinh

11. Nguyễn Đức Tồn (1999), Suy nghĩ qua một hiện tượng chuyển âm cấu tạo từ trong tiếng Việt: lui và lùi, Ngôn ngữ, số 3, tr. 24 - 30.

12. A.de Rhodes (1991), Từ điển An nam Lustan- Latinh (thường gọi từ điển Việt- Bồ- La), NXB KHXH (Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Hồ Quang Chính dịch).


 

Bài mới nhất

Bài nhiều người đọc nhất: