Bước đầu khảo sát sự "trượt vỏ ngữ âm" và khác biệt về hệ thống phụ âm đầu giữa phương ngữ Quảng Bình và Nghệ Tĩnh

Viện nghiên cứu Văn hóa và Ngôn ngữ

Số lượt xem:
263383

Trang web hiện có:
14 khách & 0 thành viên trực tuyến

Bước đầu khảo sát sự "trượt vỏ ngữ âm" và khác biệt về hệ thống phụ âm đầu giữa phương ngữ Quảng Bình và Nghệ Tĩnh

Tác giả: Lê Đức Luận
Ngày đăng: Chủ nhật, 23 Tháng 10 2011 08:35

Nghiên cứu phương ngữ (hay còn gọi là tiếng địa phương) là nghiên cứu đặc điểm riêng về ngôn ngữ của một quốc gia được sử dụng trong một địa phương hay một khu vực cụ thể. Đơn vị nghiên cứu cơ bản của phương ngữ là từ, đó là “vốn từ cư trú ở một địa phương cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hóa hoặc địa phương khác về ngữ âm và ngữ nghĩa”[2, tr.6]. Nghiên cứu phương ngữ là nghiên cứu các yếu tố riêng biệt, khác biệt với ngôn ngữ văn hóa để thấy sự sáng tạo về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa, thấy được sự đa dạng của ngôn ngữ dân tộc và sự đóng góp của ngôn ngữ địa phương vào sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc. Nghiên cứu phương ngữ cũng góp phần thấy được bản sắc văn hóa của một vùng đất qua vốn từ và cách ăn nói của dân cư vùng đất ấy.

 Ở bài viết này, chúng tôi chỉ khảo sát sự trượt vỏ ngữ âm hay là biến thể ngữ âm giữa phương ngữ Quảng Bình và Nghệ - Tĩnh để thấy được sự ảnh hưởng của phương ngữ Nghệ - Tĩnh đối với phương ngữ Quảng Bình và sự khác biệt về ngữ âm trong quá trình tiếp biến ngôn ngữ nhằm góp phần thấy được quy luật biến thể ngữ âm trong quá trình “thiên di ngôn ngữ” và “làn sóng ngôn ngữ”. Tư liệu khảo sát từ cuốn Từ điển tiếng địa phương Nghệ - Tĩnh Những nét đẹp về văn hóa cổ truyền Quảng Bình

Nghệ - Tĩnh là địa danh được gọi khi hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh được sát nhập thành một tĩnh. Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lêgọi là Hoan Châu,thời nhà Lý, năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An,thời nhà Hậu Lê, từ năm 1490 gọi là xứ Nghệ An, thời nhà Tây Sơn, gọi là Nghĩa An trấn.Đến thời nhà Nguyễn, Gia Long lại đặt làm Nghệ An trấn Năm 1831, vua Minh Mạng chia Nghệ An trấn thành 2 tỉnh: Nghệ An (phía Bắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía nam sông Lam) Từ năm 1976 đến 1991, sát nhập Nghệ An và Hà Tĩnh thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay.Đây là phần đất biên giới phía Nam của Đại Việt [3]. Quảng Bình là khu vực biên giới phía Bắc của nước Chiêm Thành. Đến thời vua Lý Thánh Tông (1069) Quảng Bình là phần đất của nước Chiêm Thành dâng cho Đại Việt (châu Bố Chánh, châu Lâm Bình). Danh xưng Quảng Bình xuất hiện vào năm 1604, do chúa Nguyễn Hoàng đổi tên phủ Tân Bình thành Quảng Bình. Đến năm Minh Mạng thứ mười hai (1831) mới lập thành tỉnh hiệu Quảng Bình [1]. Cũng như Nghệ - Tĩnh, vàonăm 1976, Quảng Bình cũng được sát nhập cùng với 2tỉnh là Quảng TrịThừa Thiênvào một tỉnh với tên gọi Bình Trị Thiên. Theo Quyết định ngày 30 tháng 6 năm 1989 của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 5, ba tỉnh này lại được tách ra như cũ.Cũng là khu vực Bình Trị Thiênnhưng phương ngữ Quảng Bình có nét riêng và ảnh hưởng sâu sắc từ phương ngữ Nghệ Tĩnh bởi nó là tỉnh sát biên với Nghệ Tĩnh và là vùng dân cư sát nhập vào Đại Việt sớm nhất nên chịu ảnh hưởng sớm và gần gũi của làn sóng ngôn ngữ Nghệ -Tĩnh. Ngoài ảnh hưởng làn sóng thì một phần dân cư Việt tại Nghệ Tĩnh đã tràn sang sinh sống tại Quảng Bình khi vùng đất Quảng Bình sát nhập vào Đại Việt và họ đã mang theo ngôn ngữ Nghệ Tĩnh đến vùng đất mới. Mặt khác, vùng Tây Nghệ - Tĩnh và Quảng Bình là vùng ngôn ngữ có nhiều yếu tố cổ của ngôn ngữ tiền Việt - Mường. Vì thế nó có sự đa xen, hòa kết và tác động lẫn nhau. Vấn đề là làm sao có thể xác định được âm gốc, từ nguyên mới xác định sự “trượt vỏ ngữ âm” ở phía nào, từ đâu. Đây là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp mà một bài viết nhỏ không thể giải quyết ngay được mà cần có sự nghiên cứu dài hơi của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học. Cái từ khóa của sự khác biệt về ngôn ngữ là vấn đề ngữ âm và từ ngữ âm biến thể ngữ nghĩa. 

1. Khảo tả sơ lược

1.1. Sự trượt vỏ ngữ âm

Qua khảo sát một số từ cơ bản, chúng tôi thấy sự trượt vỏ ngữ âm thể hiện qua những phương diện sau (Yếu tố ngôn ngữ Nghệ Tĩnh đặt trước):

1.1.1. Thanh điệu

- Dấu sắc thành dấu nặng: Bá đg. bám > Bạ, Báng đg. húc > Bạng, Bóp đg. nắn, xiết chặt tay > Bọp

- Dấu nặng thành dấu huyền: Chạn d. giàn, gác > chàn; Sẹ sẹ d. > Sè sẹ.

- Dấu nặng thành dấu sắc: Chận đg. chặn lại > Chấn, Quạu đg. Cáu > Quáu.

- Dấu huyền thành dấu hỏi: Chằm bằm đg hoặc t. nhìn chằm chằm > Chằm bẳm; Sều bọt miếng đg hoặc t > Sểu bọt miếng.

- Dấu hỏi thành dấu huyền: Cẳn rẳn đg hoặc t. càu nhàu, cằn nhằn > Cằn rằn

- Dấu bằng thành dấu huyền: Chua le t. rất chua > Chua lè.

- Dấu bằng thành dấu nặng: Rom t. > Rọm

1.1.2. Vần  

Ăn phúng đg. ăn vụng > Ăn phóng (tNg)

Bựa mai d. buổi mai, ngày mai > Bựa mơi

Cục kéc/ Cục Keéch đg. cù cho cười > Cục kít

Mô mồ d. Đâu nào > Mô nờ

Tắt ngỏm/tắt ngủm ddg. Chết, hết thở > Tắt nghỉn

1.1.3. Phụ âm cuối

- Âm “n” thành “ng”:Cẳn rẳn đg hoặc t. càu nhàu, cằn nhằn > Cẳng rẳng

- Âm “n” thành “m”: Chờn bờn t. rối bù > chờm bờm

- Âm “ng” thành “n”: Dùng t. Chùng > Dùn, Hí hởng đg hoặc t. Hí hửng > Hí hởn.

- Âm “ch” thành “c”: Sẹch trơn t. Sạch trơn > Sẹc trơn

1.1.4. Phụ âm đầu

- Âm “V” thành “B”: Bắp vả d. bắp vế > Bắp bả

- Âm “G” thành “C”: Ga d. gà > Ca, Gấu d. gạo > Cấu, Gấy d. vợ, con gái > Cấy

- Âm “Gi” thành “D”: Dam d. Con cua đồng > Dam, Gioi d. con giòi  > Dòi, Giói đg. vá kín, lợp chỗ hỏng > Dói

- Âm “Gi” thành “Ch”: Bây giừ d. Bây giờ > Bây chừ

- Âm “Nh” thành “D”: Nhác t. lười biếng > Dác; Nhái đg. nhại giọng > Dái; Nhè đg. nhắm vào > Dè; Nhọc/ Nhọoc đg hoặc t. > Dọoc/ nhọc; Nhoi đg. nhìn qua khe, nhìn ra ngoài > Doi; Nhóm đg. nhóm lại, dồn lại > Dóm; Nhôông d. Chồng > Dôông; Nhột t. Buồn cười do bị cù > Nhột/ Dột; Nhởi đg. Chơi > Dởi; Nhủ đg. Bảo, khuyên > Dủ; Nhuận trường t. Nhuận tràng > Duận trường; Nhợ d. Dây > Nhợ/Dợ; Nhủi d. Dụng cụ đan bằng tre dùng để đẩy dưới ruộng bắt tô cá > Dủi...

- Âm “N” thành “D”: Nác d. nước > Dác (tNg).

1.2.Sự khác biệt phụ âm đầu

Trong phương ngữ Nghệ Tĩnh không có phụ âm “P” nhưng phương ngữ Quảng Bình lại có với số lượng từ xuất hiện khá nhiều. Đây là hệ thống từ có nguồn gốc tiếng người Nguồn, được cho là người Việt Cổ. So với tiếng Việt Văn hóa thì có thể thấy như sau:

- Âm “P” tương ứng với âm “B”: Pa (số 3), Pa lia (Ba lia), Pạ nô (Bạ mô), Pạc (Bạc), Pàng (Cái bàng, vung đậy nồi), Páy (số bảy), Pắc (Bắc cao lên), Păn (Bay), Pắn (Bắn), Păng (Băng qua), Pắt (Bắt), Pén (Béng, bánh), Pẹo (Bẹo), Pề (Bề), Pể (Bể, vỡ), Pên (Bên), Pện (Bện, đánh đòn), Pín (Qủa bín, bí), Pít (Bịt), Pọt (Bọt, nước bọt), Pổ (Bổ, ngã), Pốc (Bốc, hốt), Pốn (Số 4), Pông (Bông hoa), Pống (Bống, vụng), Pộng (Bộng, lỗ rỗng ở cây), Pột (Bột), Pớt (Bớc, hướng bắc), Pơi (Bơi), Pới (Bới, chửi bới), Pởng (cái bởng, bảng che gió), Pù (Bầu, bù), Pụi (Bụi cây), Puồn (Buồn), Pun (Bun, đầy), Pún (Bún), Pung (Bụng), Pừa (Bừa), Pữa (Bữa cơm), Pửa củn (Bửa củi).  

- Âm “P” thành “V”: Pan (Van la), Pao (Vào), Péo (Véo), Pến (bắp Vế), Po (Vo gạo), Pú (Vú), Pui pẻ (Vui vẻ), Pưa (Vừa).

- Một số từ khác như: Pi (Chi, chi dó), Pi ni (Thế, thế này), Piệng (Đánh đập), Pong (Qủa bùi), Pô (Sao, tại pô), Pô nô (Sao không), Pô pí (Sao thế), pở (Đặt xuống), Puố (Búi tóc).

1.3. Cùng phụ âm đầu nhưng khác biệt hẳn về chức năng ngữ âm

Phụ âm “R” và “T” đã thay thế chức năng ngữ âm của “D” bởi phần lớn “D” trong phương ngữ Quảng Bình đã làm chức năng của phụ âm “Nh”.

- Các từ có phụ âm “R” sau đây không xuất hiện trong phương ngữ Nghệ Tĩnh: Rạ rày (dạ dày), Rạ hương (hoa Dạ hương), Rài (dài), Rại (Dại), Rạn (Dạn), Ranh (Danh), Ranh ngôn (Danh ngôn), Rào rạt (Dào dạt), Rạo (đi Dạo), Rày (Dày), Rạy (Dạy), Rạy rỗ (Dạy dỗ), Rặm (Dặm đường), Râu (Dâu), Rầu phụng (Dầu phụng), Rẫy rụa (Dẫy dụa), Rì (Dì, em hoặc chị của mẹ), Rịa (cái Dĩa), Rịch (Dịch), Riện (Diện), Rính (Dính), Rịu (Dịu), Ro (Do), Rò (Dò), Rọc (Dọc), Rốt (Dốt), Rột (Dột), Rơ bẩn (Dơ bẩn), Rở (Dở), Rù (cái Dù), Rư (Dư), Rự án (Dự án), Rự trù (Dự trù), Rữ (Dữ), Rưa (Dưa), Rừa (quả Dừa), Rựa (Dựa), Rưng (người Dưng), Rựng đứng (Dựng đứng), Rường như (Dường như), Rượng (Dượng, chồng dì, o)...

- Phụ âm “T” thành “D” (tNg), không có trong phương ngữ Nghệ Tĩnh: Ta (Da thịt), Ta (Tra, già), Tá (hòn Đá), Tã dẽ (Đã dễ), Tai (Trai), Tam (con Đam, dam), Tảm (hòn Dái), Tao (con Dao), Tày (Dày), Tịa (cái Dĩa).

- Phụ âm “T” thành “Đ”(tNg), không có trong phương ngữ Nghệ Tĩnh: Tàng (Đàng đi), Táng (hòn đá tảng), Tào bới (Đào bới), Tau (Đau), Tằm (Đằn lên), Tằng hắng (Đằng hắng), Tắng (Đắng), Tắp (Đắp), Tập (Đập), Tậu (Đậu), Ten (Đen), Tẹo (Đẹo, đẽo), Teng (Đến), Ti (Đi), Tỏ (Đỏ), Tọi (Đọi), Tọt (Đọt), Tôn triêng (Đòn triêng, đòn gánh), Tông (Đông), Tợi (Đợi), Tùi (Đùi), Tược (Được), Tực (Đực),Tựng (Đựng).

- Phụ âm “S” thành “Th”(tMB), không có trong phương ngữ Nghệ Tĩnh: Thiêng năng (Siêng năng), Thung thướng (Sung sướng), Thún (Sún), Thút (Sút), Thụt (Sụt).

- Phụ âm “R” thành “Th”(tNg), không có trong phương ngữ Nghệ Tĩnh: Tha (Ra), Tha phao (Ra vào), Tha phô (Ra sao), Thắn (Rắn), Thít (Rít).

- Phụ âm “Ch” thành “X”(tNg), không có trong phương ngữ Nghệ Tĩnh: Xi (Chi), Xí (con Chí), Xị (Chị gái), Xiếu (Chiếu), Xim (Chim), Xìm (Chìm). 

1.4. Hiện tượng còn phụ âm ghép trong các từ mà tiếng Việt hiện tại chỉ còn lại phụ âm đơn

- Phụ âm “T” nhưng vẫn còn “Th”, không có trong phương ngữ Nghệ Tĩnh: Thai (Tai), Thắm (Tắm), Thắt (Tắt), Thẩm phán (Tấm ván), Thé (Té, rơi), Thiền (Tiền), Tho (Tao).

1.5. Hiện tượng rụng một âm trong phụ âm ghép hiện có trong tiếng Việt

- Phụ âm “Tr” nhưng vẫn còn “T”, không có trong phương ngữ Nghệ Tĩnh: Tăng (Trăng), Tắng (Trắng), Tiệu (Triệu), Tụt xuống (Trụt xuống) [8,tr. 288-534].

2. Một vài nhận xét bước đầu

Phần lớn, phương ngữ Nghệ Tĩnh và Quảng Bình là 2 phương ngữ gần gũi và đồng nhất về hệ thống từ ngữ, sự trượt vỏ ngữ âm về thanh điệu và phần vần là không đáng kể. Đáng chú ý là sự khác biệt về phụ âm đầu giữa 2 phương ngữ này. Sự biến thể ngữ âm ở hệ thống phụ âm đầu ở phương ngữ Quảng Bình là khá phức tạp. Hiện tượng còn tồn tại phụ âm kép như Tlâu > Trâu... có cả ở 2 phương ngữ, trong khi đó có nhiều hiện tượng phụ âm đầu có ở Quảng Bình nhưng ở Nghệ Tĩnh không có. Hiện tượng còn tồn tại phụ âm ghép và rơi rụng một âm trong phụ âm ghép hiện có trong tiếng Việt văn hóa là một vấn đề cần chú ý nghiên cứu sâu hơn. Đặc biệt là các phụ âm cổ vẫn còn ở phương ngữ Quảng Bình chứng tỏ ngôn ngữ ở vùng này còn lưu giữ ngôn ngữ tiền Việt Mường và ngôn ngữ Nam Á khá đậm nét.

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thanh Ba (Chủ biên-2000), Quảng Bình - Nước non huyền diệu, Nxb  TP. Hồ Chí Minh.

2. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên, 1999), Từ điển tiếng địa phương Nghệ - Tĩnh, Nxb. Văn hóa Thông tin, H.

3. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên, 2001), Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh (Trên dẫn liệu ngôn ngữ), Nxb Nghệ An, Vinh.

4. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

5. Vương Lộc (2002), Từ điển từ cổ, Nxb. Đà Nẵng.

6. Hoàng Phê (chủ biên, 2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng.

7. Võ Xuân Trang (1981), Góp thêm cứ liệu về phụ âm kép tiếng Việt, Một số vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.

8. Nguyễn Tú (2007), Những nét đẹp về văn hóa cổ truyền Quảng Bình, Nxb. Thuận Hóa, Huế.  

 

Bài mới nhất

Bài nhiều người đọc nhất: